Đường dây nóng
Email
P!M Yahoo/Skype
: 0909 747 198 (Ms Trang)
: info@mekongfruit.com.vn
: nguyenthutrangct


Doanh nghiệp Việt “tự mất” 10-15% giá trị xuất khẩu vì thiếu chứng nhận Halal

Theo: admin - Cập nhật lúc: 00:12:15 - 08/05/2026

Tại hội nghị chuyên đề về SPS và Halal tổ chức ở Cần Thơ sáng nay (ngày 7/5), một con số được nhắc lại nhiều lần khiến không ít doanh nghiệp giật mình. Doanh nghiệp Việt đang bỏ lại từ 10-15% giá trị gia tăng trên mỗi lô hàng xuất khẩu vào thị trường Hồi giáo chỉ vì thiếu chứng nhận Halal.

 

Điều đáng nói, đây không phải là câu chuyện về năng lực sản xuất hay chất lượng sản phẩm. Việt Nam có nguyên liệu, có nhà máy, có chuỗi cung ứng. Nhưng trong nhiều trường hợp, sản phẩm vẫn được xuất đi như “hàng thông thường”, nhường phần giá trị gia tăng cho các đối tác trung gian ở nước ngoài, những đơn vị hoàn thiện khâu chứng nhận và phân phối cuối cùng.


Có hàng nhưng thiếu “tấm vé”


Thị trường Halal hiện nay không còn dừng ở mức tiềm năng. Với hơn 2 tỷ người Hồi giáo, tương đương khoảng một phần tư dân số thế giới, đây là một trong những thị trường tiêu dùng lớn nhất toàn cầu.


Đặc điểm quan trọng nhất của thị trường này là tính bắt buộc người tiêu dùng không lựa chọn mà phải sử dụng sản phẩm Halal theo quy định tôn giáo. Chính yếu tố đó tạo ra một dạng nhu cầu đặc biệt, gần như không biến động theo chu kỳ kinh tế.


Theo các phân tích tại hội nghị "Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm động, thực vật (SPS) trong Hiệp định VIFTA, CEPA" do Văn phòng SPS Việt Nam tổ chức ngày 7/5 tại Cần Thơ, quy mô thị trường Halal toàn cầu đã đạt hàng nghìn tỷ USD và tiếp tục tăng trưởng trên 10% mỗi năm, trong đó thực phẩm là lĩnh vực Việt Nam có lợi thế chiếm tỷ trọng lớn.


doanh-nghiep-viet-tu-mat-10-15-gia-tri-xuat-khau-vi-thieu-chung-nhan-halal


TS. Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam phát biểu khai mạc hội nghị "Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm và kiểm động, thực vật (SPS) trong Hiệp định VIFTA, CEPA"


Ông Nguyễn Thành Duy, Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao), nhấn mạnh rằng đây không phải sân chơi riêng của các quốc gia Hồi giáo mà là cuộc cạnh tranh xuất khẩu toàn cầu.


Ông Duy lưu ý là phần lớn các quốc gia xuất khẩu Halal lớn hiện nay lại là các nước không theo đạo Hồi như Australia với thịt bò, Brazil với thịt gà, Thái Lan với du lịch và thực phẩm chế biến. Những nước này đã đi trước bằng chiến lược chuẩn hóa bài bản. Điều đó có nghĩa ở đây không phải là cuộc chơi dành riêng cho các nước Hồi giáo. Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia nếu chấp nhận đầu tư vào tiêu chuẩn.


Thực tế tại Cần Thơ phản ánh rõ thực tế này. Được biết đến là Trung tâm nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long, thành phố này đang sở hữu chuỗi nguyên liệu có giá trị cao như gạo ST25, cá tra, tôm, trái cây nhiệt đới, nhưng tỷ lệ sản phẩm đạt chứng nhận Halal vẫn còn rất hạn chế.


Theo bà Nguyễn Thị Thùy Nhi, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ, riêng cá tra xuất khẩu sang Trung Đông năm 2025 của Cần Thơ đã đạt trên 330 triệu USD, chiếm khoảng 22% kim ngạch thủy sản vào khu vực này. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30% lô hàng được dán nhãn Halal chính thức, phần còn lại vẫn xuất khẩu như hàng thông thường. Điều này khiến doanh nghiệp bỏ lỡ khoảng 10–15% giá trị gia tăng trên mỗi lô và phần lợi ích này rơi vào tay các khâu trung gian ở cuối chuỗi cung ứng.


Đến cuối năm 2025, toàn thành phố chỉ có 56 doanh nghiệp đạt chứng nhận Halal, chiếm chưa đến 3% tổng số doanh nghiệp thực phẩm, cho thấy khoảng cách lớn giữa năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.


Nguyên nhân của sự chậm trễ này không nằm ở việc thiếu năng lực, mà chủ yếu đến từ ba rào cản thực tế. Trước hết là chi phí và quy trình chứng nhận. Halal không phải chứng nhận làm một lần là xong, mà cần đánh giá định kỳ, với chi phí mỗi lần có thể lên tới hàng trăm triệu đồng do phải mời chuyên gia quốc tế kiểm tra trực tiếp.


Thứ hai là chuỗi cung ứng chưa hoàn chỉnh. Để đạt chuẩn Halal, không chỉ sản phẩm cuối cùng mà toàn bộ nguyên liệu đầu vào cũng phải được chứng nhận, trong khi hệ sinh thái nhà cung cấp đạt chuẩn tại Việt Nam còn hạn chế.


Thứ ba là tâm lý an toàn với thị trường truyền thống. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào những thị trường quen thuộc và ổn định như Trung Quốc hoặc EU nên chưa nhìn thấy áp lực phải chuyển đổi.


Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo chính tâm lý này có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ những thị trường tăng trưởng nhanh như Pakistan hay Nigeria, nơi nhu cầu Halal đang mở rộng mạnh mẽ.


Không có “chuẩn Halal toàn cầu”


Một điểm quan trọng được nhấn mạnh tại hội nghị là không tồn tại một chứng nhận Halal có giá trị toàn cầu. Theo ông Ramlan Bin Osman, chuyên gia về chứng nhận Halal quốc tế, mỗi thị trường đều có hệ thống tiêu chuẩn riêng và danh sách công nhận khác nhau. Malaysia áp dụng tiêu chuẩn MS 1500, Indonesia sử dụng HAS 23000, còn các nước thuộc khối GCC theo tiêu chuẩn GSO. Sự khác biệt không chỉ nằm ở quy định chung mà còn ở những chi tiết cụ thể như quy định về người thực hiện giết mổ, mức độ cho phép của cồn trong sản phẩm hay yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Một sản phẩm có thể đạt tiêu chuẩn tại Singapore nhưng lại không đủ điều kiện tại UAE.


Vì vậy, theo khuyến nghị của ông Ramlan, “Doanh nghiệp cần xác định thị trường mục tiêu ưu tiên trước đó, sau đó mới lựa chọn tổ chức chứng nhận phù hợp, không phải chọn tổ chức giá rẻ nhất hay quen nhất”.




Bên cạnh Halal, doanh nghiệp còn phải đáp ứng một lớp tiêu chuẩn khác về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch (SPS). Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng, Giám đốc Marketing HCA Việt Nam, một hiểu lầm khá phổ biến trong doanh nghiệp hiện nay là coi các chứng nhận như ISO 22000 hay HACCP có thể thay thế Halal. Câu hỏi thường gặp từ phía doanh nghiệp là: “Chúng tôi đã có ISO 22000 và HACCP, vậy còn cần gì thêm để đạt Halal?”. Theo bà Hằng, dù cùng liên quan đến an toàn thực phẩm, nhưng đây là hai hệ thống hoàn toàn khác nhau và không thể thay thế cho nhau.


“ISO 22000 tập trung kiểm soát các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong khi Halal lại điều chỉnh theo các nguyên tắc của luật Shariah. Hai hệ thống này không chồng lấn mà bổ trợ theo từng lớp. ISO là nền tảng bắt buộc, còn Halal là điều kiện đủ để sản phẩm có thể tiếp cận thị trường Hồi giáo”, bà Hằng nhấn mạnh.


Trên thực tế, những doanh nghiệp đã đạt ISO 22000 hay HACCP đã có sẵn nền tảng kỹ thuật về an toàn thực phẩm, đây là một lợi thế quan trọng. Tuy nhiên, để đạt chuẩn Halal, họ cần bổ sung thêm hai yếu tố cốt lõi về bảo đảm nguồn nguyên liệu và chuỗi sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn Halal, đồng thời tuân thủ các quy định liên quan đến yếu tố tôn giáo trong toàn bộ quy trình, từ sản xuất đến ghi nhãn sản phẩm. Nói cách khác, ISO là điều kiện cần, còn Halal là điều kiện đủ để vào thị trường Hồi giáo.


Ngoài ra, theo chuyên gia văn phòng SPS Nguyễn Thị Huyền, các quy định mới trong tiêu chuẩn GSO 193 siết chặt giới hạn Aflatoxin, trong đó trái cây dùng liền và bột ngũ cốc đều không vượt quá 4 ppb. Bên cạnh đó, yêu cầu kiểm soát kim loại nặng cũng được nâng lên, với cadimi trong tôm tối đa 0,5 ppm và thủy ngân trong cá tối đa 1 ppm. Theo bà Huyền, những ngưỡng này buộc doanh nghiệp phải kiểm soát ngay từ khâu nuôi trồng, thay vì chỉ xử lý ở giai đoạn chế biến hay đóng gói.


Áp lực thời gian


Áp lực lớn nhất hiện nay đến từ yếu tố thời gian. TS. Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam cho biết từ tháng 10/2026, quốc gia có hơn 230 triệu người Hồi giáo là Indonesia sẽ bắt buộc toàn bộ thực phẩm nhập khẩu phải có chứng nhận Halal. Doanh nghiệp không đáp ứng sẽ không được phép lưu thông hàng hóa tại thị trường này. Trong khi đó, quy trình cấp chứng nhận thường mất từ 1 đến 2 tháng nếu hồ sơ đầy đủ, đồng nghĩa với việc những doanh nghiệp chưa bắt đầu gần như sẽ không kịp tham gia thị trường khi quy định có hiệu lực.


Ở chiều tích cực, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể về mặt chính sách. Việc ban hành Nghị định 127/2026 đã lần đầu tiên thiết lập một khung pháp lý đầy đủ cho lĩnh vực Halal, từ nguyên liệu, sản xuất đến chứng nhận và lưu thông. Các tổ chức chứng nhận trong nước cũng đã được nhiều quốc gia công nhận, giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn và giảm chi phí tiếp cận thị trường. Ngoài ra, các hiệp định thương mại như CEPA với UAE tạo ra cơ chế hỗ trợ về SPS, giúp doanh nghiệp xử lý nhanh các vấn đề kỹ thuật khi xuất khẩu.


Tuy nhiên, như nhận định của vị Phó Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao tại hội nghị, “Những gì còn thiếu không phải là chính sách hay hệ thống chứng nhận, mà là quyết định của doanh nghiệp”. Doanh nghiệp có thể tiếp tục xuất khẩu theo cách hiện tại, chấp nhận mất 10-15% giá trị trên mỗi lô hàng, hoặc đầu tư vào tiêu chuẩn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.


Thành An/vnbusiness.vn

 
 
bình luận 0 Lượt xem 54

Bài liên quan

Doanh nghiệp Việt “tự mất” 10-15% giá trị xuất khẩu vì thiếu chứng nhận Halal

Theo: admin - Cập nhật lúc: 00:12:15 - 08/05/2026

Tại hội nghị chuyên đề về SPS và Halal tổ chức ở Cần Thơ sáng nay (ngày 7/5), một con số được nhắc lại nhiều lần khiến không ít doanh nghiệp giật mình. Doanh nghiệp Việt đang bỏ lại từ 10-15% giá trị gia tăng trên mỗi lô hàng xuất khẩu vào thị trường Hồi giáo chỉ vì thiếu chứng nhận Halal.

 

Cập nhật các quy định và cam kết về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động, thực vật trong hiệp định VIFTA, CEPA

Theo: admin - Cập nhật lúc: 00:05:56 - 08/05/2026

Thị trường Halal toàn cầu hiện có quy mô hơn 8.000 tỉ USD và dự kiến đạt 12.000 tỉ USD trong 5 năm tới. Việt Nam có điều kiện thuận lợi để tiếp cận các thị trường này thông qua các hiệp định thương mại đã ký kết: Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam - UAE (CEPA).

 

Trái mít đi chính ngạch

Theo: - Cập nhật lúc: 12:43:57 - 08/01/2026

Trái mít đi chính ngạch một cánh cửa mở ra và một con đường cần đi cho tử tế.

 

Ký Nghị định thư xuất khẩu mít tươi Việt Nam sang Trung Quốc

Theo: admin - Cập nhật lúc: 15:22:34 - 03/12/2025

Sáng 27/11, tại Bắc Kinh, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cùng Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Hải quan Trung Quốc ký Nghị định thư xuất khẩu mít tươi.

 
 
Xem thêm

CÔNG TY TNHH TRÁI CÂY MEKONG

MST: 6300 249 140

Đ/c: Lô 16A14b KCN Trà Nóc 1, P. Trà Nóc, Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ

Điện thoại : (84) 292 3744 486 Fax : (84) 292 3744 487

Hotline : (84) 909 747 198 (Ms Trang), (84) 919 246 337 (Mr. Grenk Nguyen)

Email : info@mekongfruit.com.vn; nguyentt@mekongfruit.com.vn; sale@mekongfruit.com.vn

Website : www.mekongfruit.com.vn Skype : grenknguyen

Kinh doanh Nội địa: Sale 1: 0931116033, Sale 2: 0931110769


Tổng lượt truy cập: 252396
Đang truy cập: 4
Mien Tay Net,  Thiet ke web tai Can Tho,  Soc Trang,  Bac Lieu,  Ca Mau,  Hau Giang,  An Giang,  Kien Giang,  Long An,  Vinh Long,  Dong Thap,  Ben Tre,  Tien Giang Tra Vinh